Đặc điểm của đất sét

Việc sử dụng đất đai làm tư liệu sản xuất sinh lợi đã được con người sử dụng từ lâu đời. Việc sử dụng đất này có thể được nhìn thấy từ việc sử dụng đất làm vật liệu để sản xuất gạch, ngói và đồ gốm hoặc đồ gốm. Một loại đất được sử dụng rộng rãi trong sản xuất này là đất sét hoặc đất sét. Đất sét là loại đất có nguồn gốc từ quá trình phong hóa các nguyên tố hóa học tạo nên đá ở kích thước vi mô và tiểu vi mô có công thức hóa học là Al2O3.nSiO2.kH2O. Theo Bowles (1991), đất sét là hạt khoáng có kích thước nhỏ hơn 0,002 mm, là nguyên tố chính trong quá trình kết dính trong đất.

Đất sét từ quá trình hình thành là kết quả của quá trình phong hóa đá silica bởi axit cacbonic và quá trình này bắt nguồn từ hoạt động địa nhiệt. Mahida (1984) nói rằng đất sét là hỗn hợp của cát và các hạt bụi với các phần của đất sét có các đặc điểm khác nhau. Theo Das (1988), phân loại đất dựa trên hệ thống thống nhất, Đất sét được phân loại là đất hạt mịn, tức là đất có tổng trọng lượng lọt qua rây số 200.

Ngoài ra, đất sét có thể được phân biệt với các loại đất khác bằng kích thước và hàm lượng khoáng vật của chúng. Theo Prihatin (2010), khoáng sét là chất keo có kích thước rất nhỏ, nhỏ hơn 1 micron. Bản thân chất keo khi quan sát dưới kính hiển vi trông giống như những tấm nhỏ bao gồm các tinh thể có cấu trúc nguyên tử lặp lại. Các tấm bao gồm: một tấm tứ diện hoặc tấm silica và một tấm hình bát diện hoặc tấm alumin. Hơn nữa, các khoáng chất đất sét được hình thành trên bề mặt trái đất, nơi không khí và nước tương tác với các khoáng chất silica và quá trình phong hóa hóa học của các loại đá chứa fenspat, orthoclase, plagioclase felspat và mica xảy ra. Vì vậy, khoáng sét có thể xuất hiện trong hầu hết mọi loại đá có chứa nhiều kiềm và đất kiềm cho phép các phản ứng hóa học và phân hủy xảy ra.

Nếu quan sát từ cấu trúc khoáng vật, đất sét có một số loại khoáng vật sét như sau:

  • Kaolinit
    Khoáng chất này là một thành viên của nhóm kaolinit serpentine với công thức hóa học Al2Si2) 5 (OH) 4-. Khoáng chất này có cấu trúc mạnh và gây ra tính chất dẻo và co ngót thấp.
  • Illinite
    Loại khoáng chất này là mica hoặc mica tanha có hạt mịn. Khoáng chất này có công thức hóa học là KyAl2 (Fe2Mg2Mg3) (Si4yAly) O10 (OH) 2.
  • Montmorilonite
    Hàm lượng khoáng chất này có độ dẻo và độ co ngót cao với công thức hóa học là Al2Mg (Si4O10) (OH) 2 xH2O. Điều này làm cho đất sét dẻo khi ướt và cứng lại khi khô.
  • Halloysite
  • Smectite
  • sâu bọ
  • Clorit
  • Attapulgite
  • Allophone

Hơn nữa, dựa trên loại riêng của nó, đất sét bao gồm:

  • Đất sét nguyên sinh
    Loại sét do phong hóa đá fenspat bởi các lực nội sinh không di chuyển từ đá mẹ có đặc điểm từ trắng sáng đến xỉn màu, có xu hướng hạt thô hoặc dạng hạt, không dẻo, cường độ nóng chảy cao, độ co ngót thấp và khả năng chống để chữa cháy hoặc đốt cháy.
  • Đất sét thứ cấp
    Là loại sét xuất hiện do kết quả của quá trình phong hóa các đá fenspat di chuyển ra xa đá mẹ do các lực ngoại sinh. Đặc điểm của nó là không tinh khiết, có xu hướng hạt mịn, dẻo, màu xám, nâu, đỏ, vàng, độ co ngót cao, nhiệt độ nóng chảy thấp, chống cháy.
    Hơn nữa, loại đất sét thứ cấp này được chia thành năm nhóm, cụ thể là đất sét chịu lửa, đất sét làm đồ đá, lớp phủ bóng, đất sét đồ nung và các loại đất sét khác, chẳng hạn như bentonit, đất sét thông thường, cao lanh.

Dựa trên hình ảnh hiển thị, các đặc tính của đất sét như sau:

  1. Đo nhỏ hơn 0,002 mm.

    Kích thước này rất nhỏ nên nó ở dạng hạt mịn

  2. Mức độ thấm thấp.
    Mức độ thấm thấp này cho phép đất sét không có khả năng hút nước, do đó chúng không thích hợp để sử dụng làm đất nông nghiệp và rừng trồng.
  3. Tốc độ dâng nước mao dẫn cao.
  4. Kết dính.

    Khi lượng nước rất lớn nhớ loại đất này, đất này sẽ rất dính.

  5. Tỷ lệ ra hoa và tàn lụi rất cao.
  6. Quá trình hợp nhất diễn ra chậm.
  7. Có các ion dương có thể trao đổi.
  8. Có diện tích bề mặt rất lớn.
  9. Kết cấu cứng nếu bị cháy.

Đặc biệt, đất sét trải qua quá trình nung bằng lửa sẽ thể hiện các quá trình sau:

  • Sự bay hơi của nước hình thành xảy ra ở nhiệt độ đốt cháy khoảng 150ºCelcius;
  • Có sự bay hơi của nước liên kết hóa học với các chất khác ở nhiệt độ 400ºCelcius đến 600ºCelcius;
  • Sự thay đổi tinh thể xảy ra trong đất sét ở nhiệt độ trên 800ºCelcius;
  • Hợp chất sắt sẽ chuyển thành hợp chất bền; và
  • Cháy xảy ra co ngót.

Việc sử dụng đất sét từ lâu đã được sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất đồ gốm sứ cũng như sản xuất ngói, xi măng, và được sử dụng trong công nghiệp luyện quặng sắt. Tuy nhiên, những lợi ích truyền thống khác có thể được sử dụng từ đất sét như sau:

  • Thuốc giải độc.
    Đất sét có các chất như bọt biển hoặc bọt biển có thể hoạt động như một chất hấp thụ độc tố trong cơ thể, đặc biệt là trong dạ dày.
  • Snack.
    Ở các khu vực Cirebon và Yogyakarta, có một số khu vực sử dụng đất sét làm nguyên liệu để làm đồ ăn nhẹ gọi là ampo
  • Thuốc giảm đau.
    Thành phần của đất sét có chứa sắt hoặc kẽm có thể chữa lành vết thương vì nó có khả năng làm mát.
  • Tẩy tế bào chết và đắp mặt nạ.
    Tính chất dính của đất sét và cứng khi ướt cho phép nó được sử dụng như một thành phần trong tẩy tế bào chết toàn thân và mặt nạ vì nó có thể làm căng da.

Từ những thảo luận trên, có thể kết luận rằng đất sét có đặc điểm giống với đất sét và có đặc điểm chính là có thể dính và nhờn nếu ở trạng thái ướt và trở nên cứng nếu ở điều kiện khô. Cũng vậy, đất sét hay còn gọi là đất sét đã trở thành nguyên liệu sản xuất được nền văn minh nhân loại sử dụng từ lâu.