Hệ sinh thái Biển Sâu và Biển Nông ở Indonesia

Hãy cùng tham khảo ngay bài viết Hệ sinh thái Biển Sâu và Biển Nông ở Indonesia
được cập nhật ngày 2022-01-13 00:24:02 để hiểu rõ hơn về vấn đề này nhé

Hệ sinh thái là nơi mà sinh vật và sinh vật và sinh vật tương tác với phi sinh học. Bản thân Trái đất là một hành tinh có nhiều hệ sinh thái. Các hệ sinh thái trên trái đất được chia thành hai hệ sinh thái chính, đó là hệ sinh thái trên cạn và hệ sinh thái dưới nước (Đọc: Các loại hệ sinh thái đất và nước). Hệ sinh thái trên cạn là hệ sinh thái có môi trường sống là trên cạn. Hệ sinh thái trên cạn bao gồm rừng nhiệt đới, rừng gió mùa, hệ sinh thái sa mạc hoặc hệ sinh thái lãnh nguyên. Trong khi hệ sinh thái dưới nước là sự tồn tại mà môi trường sống của chúng là nước. Bản thân hệ sinh thái nước được chia làm hai, đó là hệ sinh thái nước ngọt và nước biển. Hệ sinh thái nước ngọt bao gồm hệ sinh thái sông, hệ sinh thái hồ, đầm lầy. Trong khi đó, hệ sinh thái biển được chia làm hai, đó là hệ sinh thái biển sâu và hệ sinh thái biển nông.

Biển sâu

Hệ sinh thái biển sâu là hệ sinh thái nằm dưới đáy biển sâu. Hệ sinh thái này khác với hệ sinh thái biển nông. Điều này là do ánh sáng mặt trời có thể chiếu vào là rất ít, hoặc hoàn toàn không có. Các sinh vật sống ở biển sâu trung bình là động vật săn mồi hoặc động vật ăn xác thối. Ngoài ra, lượng thảm thực vật dưới đáy biển sâu hầu như không tồn tại. Hệ sinh thái biển vẫn là một bí ẩn chưa có lời giải. Bởi vì chỉ những công cụ mới có thể xuống nước sâu đến hàng nghìn mét. Một số loài động vật độc đáo được tìm thấy trong hệ sinh thái biển sâu. Tuy nhiên, do thiếu công nghệ và kiến ​​thức, nhiều loài động vật biển sâu vẫn chưa được xác định danh tính. Hệ sinh thái biển sâu được nhìn thấy dựa trên các lớp độ sâu của đại dương. Cụ thể là mesopelagic, bathyal, abyssal và hadopelagic.

  1. Mesopelagic là lớp biển sâu ở độ sâu 500 đến 1000 m. Ở lớp này, lượng ánh sáng mặt trời chiếu vào đã giảm đi rất nhiều. Lớp này thường được gọi là chạng vạng. Điều này là do lượng ánh nắng chiếu vào ít nên nó trông giống như hoàng hôn. Động vật có thể sống ở độ sâu này là động vật có thể sống mà không cần nhiều ánh sáng mặt trời. Con vật giống như một con cá voi. Thảm thực vật ở độ sâu này, rất ít, do thiếu lượng ánh sáng mặt trời chiếu vào.
  2. Bathyal là một lớp biển sâu ở độ sâu 1000 đến 4000 mét. Trong lớp này, ánh sáng mặt trời chiếu vào hầu như không tồn tại. Vùng này còn được gọi là nửa đêm. Ở khu vực này, nhiệt độ trung bình vào khoảng 4 độ C. Sinh vật sống trong khu vực này là sinh vật sống ăn sinh vật phù du và tàn tích của các sinh vật sống khác đã chết. Những sinh vật sống cần ánh nắng mặt trời khó có thể tìm thấy ở khu vực này.
  3. Abyssal là vùng sâu của đại dương. Khu vực này ở độ sâu từ 4000 đến 6000 mét. Khu vực này cũng có thể được gọi là nửa đêm thấp hơn. Không có ánh sáng mặt trời đi vào vùng này. Vì vậy vùng này rất tối và lạnh. Nhiệt độ trong vùng dao động từ 2 đến 3 độ C. Cuộc sống trong khu vực này chỉ được lấp đầy bởi các loài động vật săn mồi. Tại khu vực này, nhiều nhà khoa học tin rằng những con bạch tuộc khổng lồ cũng như các loài động vật cổ đại vẫn còn sống như cá mập megaladon.
  4. Hadopelagic là một rãnh đại dương. Khu vực này ở độ sâu hơn 6000 mét. Khu vực này là vùng sâu nhất trong số các đại dương trên trái đất. Vẫn còn rất nhiều bí ẩn chưa được nhiều nhà khoa học giải đáp liên quan đến khu vực này. Điều này là do khu vực này rất sâu và rất khó thực hiện nghiên cứu. Hiện vẫn chưa có công nghệ nào có thể xuyên qua lớp này, rất nhiều bí ẩn dưới đáy biển sâu vẫn chưa được giải đáp. Có 7 biển trên thế giới là đại dương sâu nhất thế giới.

Biển cạn

Hệ sinh thái biển nông là hệ sinh thái ở độ sâu dưới 500 mét. Ở những vùng biển nông, có thể dễ dàng tìm thấy nhiều loài động vật và thảm thực vật. Điều này là do các vùng biển nông nhận được rất nhiều ánh sáng mặt trời. Hệ sinh thái biển nông, có nhiều vẻ đẹp nên dễ dàng được sử dụng làm điểm du lịch như Công viên hải dương Bunaken ở Indonesia. Hệ sinh thái ở vùng biển cạn là hệ sinh thái rạn san hô. Rạn san hô là một trong những sinh vật sống rất dễ tìm thấy dọc theo bờ biển. Đặc biệt là ở các khu vực hệ sinh thái ven biển, một trong số đó là ở Indonesia. Bản thân các rạn san hô, có nhiều loại khác nhau. Các loại rạn san hô được chia thành 4, cụ thể là dựa vào loại, dựa vào hình dạng và nơi sinh trưởng, dựa vào vị trí của nó và dựa trên sự phân vùng của nó.

A. Rạn san hô theo loại

Rạn san hô được chia làm hai loại là rạn san hô vành mềm và rạn san hô cứng.

  • Rạn mềm: loại rạn san hô này là rạn san hô mọc ven biển. Loại rạn này không hình thành san hô, và có xu hướng phì nhiêu vì nhận đủ ánh sáng mặt trời.
  • Rạn cứng: loại rạn này là rạn san hô hình thành đá vôi dưới biển. Đây là loại rạn rất mỏng manh và dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu. Những rạn san hô này là hình dạng chính của hệ sinh thái rạn san hô.

B. Rạn san hô dựa trên hình dạng và nơi phát triển

Loại rạn san hô này được chia thành 4 loại, đó là:

  • Rạn: đá ngầm là mỏ đá vôi. Trầm tích này có hình dạng giống như một gành biển là một trong những hệ sinh thái ven biển đang hình thành.
  • San hô: san hô là quần thể sinh vật biển có vai trò trong việc hình thành các rạn san hô. Hình dạng của san hô phân khúc giống như cây tre.
  • San hô đá ngầm: San hô đá ngầm là loại san hô mềm, không tiết vôi. Nhiều rạn san hô được tìm thấy ở các vùng ven biển.
  • Rạn san hô: Rạn san hô là hệ sinh thái dưới biển, được hình thành do sự cộng sinh giữa động vật và thực vật biển.

C. Rạn san hô dựa trên vị trí

Các rạn san hô dựa trên vị trí của chúng được chia thành 4, đó là:

  • Các rạn san hô ngoại vi: Những rạn san hô này là những rạn san hô phổ biến nhất được tìm thấy xung quanh bờ biển. Rạn san hô này có thể sống ở độ sâu 40 m. Rạn san hô này có hình tròn hướng ra biển khơi. Những rạn san hô này được tìm thấy ở Bunaken, Đảo Panaitan và Nusa Dua Bali.
  • Rạn san hô: Những rạn này tương tự như rạn san hô. Tuy nhiên, rạn san hô này nằm xa bờ biển. Rạn san hô này có thể phát triển đến độ sâu 75 m. Những rạn san hô này được tìm thấy ở quần đảo Riau, Nam Sulawesi, quần đảo Banggai, Đông Nam đảo Sulawesi.
  • Rạn san hô Ring: Rạn san hô này có hình dạng giống như một chiếc nhẫn. Những rạn san hô này thường được tìm thấy xung quanh Đại Tây Dương.
  • Rạn san hô phẳng: Những rạn san hô này là những rạn san hô hình thành nên các hòn đảo. Rạn san hô này phát triển từ đáy biển lên mặt biển. Những rạn san hô này được tìm thấy ở quần đảo Thousand và quần đảo Ujung Batu của Aceh.

D. Dựa trên phân vùng

Rạn san hô dựa trên sự phân vùng được chia thành 2, đó là những rạn quay về hướng gió và những rạn đối diện với gió.

  • Rạn san hô hướng gió: Đây là những rạn san hô có độ dốc hướng ra biển khơi. Những rạn san hô này có thể sống ở độ sâu 50 m và có xu hướng màu mỡ. Rạn san hô còn có thể được gọi là tảo pamatang.
  • Rạn san hô phía sau: Những rạn san hô này nói chung là đá ngầm cứng. Có thể được tìm thấy ở độ sâu dưới 50 m. Hình dạng của rạn san hô này giống như một dải san hô hẹp.

Cũng đọc:

  • Hệ sinh thái nước ngọt và nước biển
  • Máng biển: Ý nghĩa, Đặc điểm và Loại
  • Biển sâu nhất thế giới và lời giải thích của nó

Bài viết Hệ sinh thái Biển Sâu và Biển Nông ở Indonesia
được chia sẻ bởi Thommatngaymua.com vào 2022-01-13 00:24:02