Tác động của việc khai thác cát biển (Tích cực và Tiêu cực)

Indonesia là một quốc gia quần đảo với khoảng 17.000 hòn đảo lớn nhỏ. Với nhiều đảo, Indonesia có tiềm năng tài nguyên thiên nhiên lớn với số lượng lớn các bờ biển và vùng biển. Việc quản lý tài nguyên thiên nhiên ở một số lượng lớn các bờ biển và vùng biển chưa được tận dụng hoặc tối ưu hóa thông qua các quy hoạch phát triển hiện có, do đó việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên hiện có cần được ưu tiên với một hệ thống quản lý có tổ chức và toàn diện.

Một cách để sử dụng tài nguyên này là khai thác. Khai thác là một hoạt động được thực hiện để chiết xuất một lượng lớn hàm lượng trong đất có giá trị bán cao và hoạt động này có thể được thực hiện theo cách truyền thống và hiện đại, ví dụ như khai thác khoáng sản, than đá và các hoạt động khác.

Hoạt động khai thác là chiến lược đối với một khu vực trong việc cải thiện khu vực công nghiệp và nền kinh tế. Đặc biệt đối với các khu vực ven biển, một trong những hoạt động khai thác là khai thác cát biển. Tương tự như khai thác cát sông trên đất liền, khai thác cát biển được thực hiện quanh bờ biển hoặc cũng có thể thực hiện ở giữa biển bằng công cụ truyền thống hoặc sử dụng công cụ hiện đại hơn. Cát biển được sử dụng cho nhiều nhu cầu khác nhau như làm vật liệu xây dựng và làm đường. Ngoài cát, khai thác cát biển còn có một sản phẩm phụ là quặng sắt.

Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi việc khai thác cát biển được tìm thấy ở nhiều địa điểm khác nhau xung quanh bờ biển ở Indonesia. Ngoài ra, khai thác cát biển còn được thực hiện để thực hiện việc bồi lấp biển, cụ thể là tích trữ một lượng lớn đất hoặc cát trên bờ biển để mở rộng đất liền hoặc tạo đảo nhân tạo. Điều này giống như những gì đã xảy ra ở Biển Thousand Islands và Vịnh Jakarta, Đảo Sentosa ở Singapore, xung quanh bờ biển Benoa ở Bali, trong khu vực Vịnh Wakatobi ở Sulawesi.

Theo Nghị định của Tổng thống. 33 năm 2002, cát biển là một loại cát đào được tìm thấy trên khắp các vùng biển ven biển và biển của Indonesia. Tuy nhiên, việc khai thác cát biển vẫn được phép theo các quy định và pháp luật hiện hành nếu nó được thực hiện theo các quy tắc và quy định khai thác cát biển đã được xác định trước. Tuy nhiên, hoạt động khai thác cát biển vẫn diễn ra trái phép, vi phạm các quy định hiện hành.

Một trong những lý do khai thác cát biển trái phép là do nó được bán hoặc xuất khẩu sang các nước khác, cụ thể là Singapore, được sử dụng làm bãi chôn lấp hoặc lấp đất. Ngoài việc gây thua lỗ, việc khai thác cát biển cũng rất cần thiết cho việc mở rộng các bến cảng và bến cảng trên lãnh thổ Indonesia. Điều này được thực hiện nhằm mở rộng năng lực và cung cấp đủ chỗ cho các tàu có kích thước từ trung bình đến lớn có thể dừng lại tại các cảng hoặc bến tàu không đủ khả năng về mặt kỹ thuật.

Căn cứ vào giải thích trên, tác động của khai thác cát biển có thể được giải thích như sau:

1. Tác động tích cực

Các tác động tích cực của việc khai thác cát biển hợp pháp có thể mang lại giá trị gia tăng cho một khu vực hoặc quốc gia Indonesia nói chung, bao gồm:

  • Là thu nhập nhà nước hoặc ngoại hối thu được từ xuất khẩu cát biển;
  • Tăng nguồn thu của địa phương trên địa bàn từng huyện;
  • Mở rộng khu vực bến tàu hoặc bến cảng;
  • Cải tạo biển để phát triển và
  • Như thu nhập của cộng đồng xung quanh bờ biển;

2. Tác động tiêu cực

Tác động tiêu cực này nhiều hơn tác động tích cực thu được từ khai thác cát biển vì khai thác cát biển trái phép có thể gây tổn hại đến hệ sinh thái biển trong thời gian rất dài và thời gian phục hồi không nhanh. Một số tác động tiêu cực có thể thấy rõ từ việc khai thác cát biển như sau:

  • Gia tăng mài mòn bờ biển và xói mòn bãi biển
  • Giảm chất lượng môi trường biển;
  • Gia tăng ô nhiễm ven biển;
  • Suy giảm chất lượng nước khiến nước biển ngày càng đục;
  • Thiệt hại khu vực đẻ trứng và khu vực ương;
  • Tạo ra sự hỗn loạn làm tăng hàm lượng chất rắn lơ lửng dưới đáy nước;
  • Gia tăng cường độ ngập lụt do triều cường, nhất là các vùng ven biển có khai thác cát biển;
  • Phá hủy các hệ sinh thái rạn san hô và các loài động vật sống trong các hệ sinh thái này;
  • Năng lượng của sóng hoặc sóng đánh vào bờ biển hoặc biển càng cao. Điều này theo Purba (2003) bởi vì đáy của vùng nước trước đây chứa cát biển trở nên rất dốc và sâu nên năng lượng của sóng hướng vào bờ biển sẽ cao hơn do đáy nước giảm chấn; và
  • Sự xuất hiện của xung đột xã hội giữa các cộng đồng ủng hộ môi trường và những người khai thác cát biển.

Từ lý giải về hai tác động tích cực và tiêu cực của khai thác cát biển, đã đến lúc chính quyền địa phương, cụ thể là cơ quan có thẩm quyền quản lý về khai thác cát biển, cần rà soát lại việc ứng phó với tình trạng khai thác cát biển, cả hợp pháp và bất hợp pháp. Khai thác cát biển là hoạt động có hai mặt đối lập, một mặt nó cải thiện phúc lợi và chất lượng cuộc sống của người dân, mặt khác có thể gây hủy hoại môi trường, các hệ sinh thái ven biển và biển. Các bước có thể được thực hiện để điều chỉnh và hạn chế khai thác cát biển như sau:

  • Chính quyền địa phương cần xác định và xem xét các quy định của khu vực về quy hoạch không gian biển và vùng ven biển một cách thường xuyên với tất cả các yếu tố liên quan;
  • Rà soát cấp phép khai thác cát biển đối với các công ty hoạt động khai thác cát bừa bãi;
  • Tìm kiếm các ngành kinh tế thay thế để cải thiện phúc lợi và cuộc sống của cộng đồng xung quanh bờ biển, chẳng hạn như nuôi cua, đánh bắt thủy sản nước lợ, nuôi tôm càng xanh và các ngành khác;
  • Tăng cường chương trình trồng cây ngập mặn
  • Cấm khai thác nước biển bất hợp pháp bằng cách đưa ra các quy định pháp lý ràng buộc với mức phạt tối đa;
  • Xã hội hóa lợi ích của rừng ngập mặn hoặc rừng ngập mặn để bảo vệ các hệ sinh thái biển và ven biển; và
  • Cơ quan chức năng tiến hành tuần tra các vùng biển và ven biển để giám sát việc khai thác nước biển đã có giấy phép.

Đó là tác hại của việc khai thác cát biển và cách phòng tránh, khắc phục hy vọng sẽ hữu ích.