Khảo sát lập bản đồ là gì?

Khảo sát lập bản đồ là một môn khoa học nhằm xác định vị trí tương đối của một điểm bên dưới hoặc bên trên bề mặt trái đất
Khảo sát lập bản đồ là một môn khoa học nhằm xác định vị trí tương đối của một điểm bên dưới hoặc bên trên bề mặt trái đất.

Để tìm hiểu về trái đất, chúng ta cũng cần hiểu hình dạng của bề mặt trái đất hoặc hình dạng nổi của bề mặt trái đất. Vì vậy, hình dạng của bề mặt trái đất trở thành trung tâm của việc học tập trong khảo sát đất. Chúng ta biết rằng nếu bề mặt trái đất không bằng phẳng mà có núi, thung lũng, đồi, dốc, khe núi làm cho hình dạng bề mặt trái đất không bằng phẳng.

Vì vậy, các nhà địa lý đang tìm cách giúp việc nghiên cứu hình dạng của hành tinh Trái đất trở nên dễ dàng hơn. Bao gồm truyền tải thông tin về hình dạng bề mặt trái đất trong một mặt phẳng phẳng, một trong số đó là tạo bản đồ. Để lập bản đồ hoặc lập bản đồ, phải tiến hành nhiều phép đo khác nhau trên bề mặt trái đất, trong khi chúng ta biết rằng bề mặt trái đất không bằng phẳng. Để đo bề mặt không bằng phẳng của trái đất, cần thực hiện các phép đo dưới dạng đo phẳng và đo dọc, để sau này dữ liệu thu được có thể hữu ích và bền vững.

Trong nghiên cứu trắc địa cũng cần phải có hiểu biết về khảo sát đất. Bản thân khoa học trắc địa có 2 nghĩa, đó là hiểu biết khoa học và hiểu biết thực tế. Sự hiểu biết thực tế này thường được sử dụng trong thuật ngữ lập bản đồ, cụ thể là tạo bóng dưới dạng bản đồ xuất phát từ một phần nhỏ hoặc lớn của bề mặt trái đất.

Trong khi điều tra thuật ngữ là một hoạt động thu thập dữ liệu trong trường hợp này có mối quan hệ với bề mặt trái đất thông qua bản đồ hoặc phương tiện kỹ thuật số. Vì vậy có thể kết luận rằng lập bản đồ khảo sát hay địa tin học là một môn khoa học nhằm xác định vị trí tương đối của một điểm bên dưới hoặc bên trên bề mặt trái đất. Nhìn chung, khảo sát địa chất có thể được hiểu là một ngành khoa học bao gồm tất cả các phương pháp đo đạc và thu thập thông tin về môi trường vật chất và trái đất, xử lý thông tin và phổ biến kết quả của các dạng (sản phẩm) đã qua xử lý để sử dụng khi cần thiết.

Vì lý do này, các cuộc khảo sát lập bản đồ là rất cần thiết và quan trọng khi thời đại phát triển. Điều này liên quan đến việc dân số ngày càng tăng và nhu cầu về đất nền tiếp tục tăng. Với việc triển khai công tác đo đạc bản đồ được hỗ trợ bởi máy tính và công nghệ dưới dạng vệ tinh, sẽ không khó để đưa ra các quyết định về quy hoạch và chính sách trong quản lý và sử dụng đất một cách bền vững và sáng suốt.

Kỹ thuật đo đạc bản đồ khảo sát

Trong thực hiện các phép đo về đo đạc bản đồ hoặc đo địa vật, nó được chia thành 3 phần cơ bản, đó là đo khung cơ sở dọc (KĐV), đo khung cơ sở ngang (KĐH) và đo đạc điểm chi tiết. Dưới đây là giải thích về từng phép đo:

1. Đo bộ xương cơ sở dọc

Phép đo này là một kỹ thuật và phương pháp đo một tập hợp các điểm mà vị trí thẳng đứng của chúng đã biết hoặc được xác định. Vị trí thẳng đứng này ở dạng độ cao đến một mặt phẳng tham chiếu độ cao nhất định và thường sử dụng mực nước biển trung bình (MSL). Phương pháp đo khung cơ sở thẳng đứng này được chia thành 3 phép tính:
  • Phương pháp Sipat cơ bản: Đo chiều cao ngắm của dụng cụ quang học lưỡi phẳng trên thực địa bằng que đo. Phép đo này vẫn được coi là cách chính xác nhất để đo sự chênh lệch về chiều cao.
  • Phương pháp đo khí áp: Phương pháp đo dựa trên phép đo chênh lệch áp suất khí quyển. Và công cụ đo lường chính được sử dụng là Phong vũ biểu.
  • Phương pháp đo lượng giác: Phương pháp đo này là việc thu được sự chênh lệch độ cao thông qua khoảng cách trực tiếp trên ống nhòm với độ chênh lệch độ cao bằng cách tính đến chiều cao của dụng cụ, góc thẳng đứng (zanith hoặc độ nghiêng) và chiều cao của đường ngắm. được biểu diễn bằng ren chính giữa của thước đo.

2. Đo bộ xương cơ bản theo chiều ngang

Phép đo này nhằm xác định mối quan hệ theo phương ngang của các điểm được đo trên bề mặt trái đất. Vì vậy, nó yêu cầu dữ liệu góc ngang được đo bằng tỷ lệ vòng tròn nằm ngang.
  • Phương pháp đo lường đa giác: Được sử dụng nếu các điểm có tọa độ cần biết nằm theo chiều dài để hình thành một đa giác hoặc đa giác. Phương pháp này nhằm mục đích thu được tọa độ planimetric (X, Y).
  • Phương pháp đo tam giác: Nếu diện tích đo có cùng chiều rộng và chiều dài để có thể tạo thành lưới tam giác và giá trị được tính là góc trong mỗi tam giác.
  • Thử nghiệm Phương pháp đo: Nếu diện tích được đo lớn hơn các số đo khác, hãy tạo một loạt tam giác sao cho các góc được tính đều là các cạnh của tam giác.
  • Phương pháp đo liên kết chuyển tiếp: Đo dữ liệu bắt nguồn từ hai điểm trong trường nơi công cụ đứng để thu được một điểm khác trong trường nơi mục tiêu đứng (sợi chỉ, dấu hiệu đo) để có thể biết được từ điểm đó. Đường thẳng giữa hai điểm này được gọi là abscissa và góc tạo bởi abscissa với mục tiêu tại điểm B được gọi là góc beta.
  • Phương pháp đo Collins và Cassini: Một phương pháp đo lường trong khuôn khổ cơ bản nằm ngang nhằm xác định tọa độ của các điểm bằng cách buộc chúng vào phía sau của một số điểm nhất định và đo các góc tại các điểm có tọa độ đã được xác định.

3. Đo điểm – Điểm chi tiết

Nguyên tắc của phép đo này là xác định tọa độ và độ cao của các điểm chi tiết của các điểm buộc. Phương pháp được sử dụng là phương pháp bù trừ và phương pháp đo tachymetry. Phương pháp độ lệch là phép đo điểm sử dụng một công cụ đơn giản dưới dạng thước đo và dây dẫn. Trong khi phương pháp đo tachymetry sử dụng các công cụ quang học, điện tử và kỹ thuật số.

Công cụ khảo sát lập bản đồ

Khi thực hiện khảo sát bản đồ, cần độ chính xác cao và sử dụng các dụng cụ đo đạc, vì công việc chính của khảo sát bản đồ là đo khoảng cách và góc. Có nhiều công cụ cần thiết với các chức năng khác nhau. Để làm rõ về những công cụ cần thiết khi tiến hành điều tra đất đai, sau đây là tên của công cụ và cũng là giải thích.

Dụng cụ đo lường

Mét

Một tên gọi khác của dụng cụ này là thước dây, thường được làm bằng nhựa dẻo, ở dạng cuộn dây có độ dài nhất định và có vạch và số. Bản thân máy đo được sử dụng để đo khoảng cách và chiều dài. Đối với các phép đo đơn vị, Đơn vị Quốc tế (SI) thường được sử dụng dưới dạng centimet (cm), mét (m) và milimét (mm).

Thước kẻ hoặc Thước kẻ

Dụng cụ đo lường mà bạn có thể thường thấy là một cái thước và thường dùng nhựa hoặc nhôm sắt và có độ chia nhỏ nhất là 1 milimet (mm). Dụng cụ đo này có cấp chính xác 0,5 mm, thông thường thước được sử dụng có độ dài từ 50 cm – 100 cm tùy theo nhu cầu. Tuy nhiên, đối với cuộc sống hàng ngày, thước kẻ hay thước kẻ thường dùng thước 50 cm vì kích thước nhỏ gọn, dễ mang theo.

Dấu hiệu đo lường

Các điểm đánh dấu đo lường cũng được sử dụng để giúp bạn dễ dàng đo sự khác biệt về chiều cao giữa các thanh chữ thập và mặt đất. Dấu hiệu đo lường là dụng cụ đo lường làm bằng gỗ hoặc hỗn hợp nhôm và có thang số để dễ đọc. Kí hiệu đo lường này giống như một cái thước kẻ có chiều dài từ 3 mét đến 5 mét với đơn vị là cm, có các khối màu (đỏ, trắng, đen) mỗi khối biểu thị 1 cm, cứ 5 khối thì có chữ E trong dạng 5 cm nếu có 2 chữ E nghĩa là 1 dm (10 cm).

Có một số điều cần xem xét khi sử dụng thước đo này:
  • Thang đo của biển báo tính bằng cm / mm hoặc khoảng cách trên dòng trong biển báo phải tính bằng cm hoặc mm.
  • Trong kết nối, cố gắng chia tỷ lệ phải đúng.
  • Khi sử dụng, không được để ký hiệu đo nghiêng hoặc nghiêng về phía trước hoặc phía sau, vì có thể ảnh hưởng đến kết quả của kết quả đo.

Công cụ đo góc

Phạm vi

Một thiết bị đo lường này có thể không phải là tên của một vật thể lạ. Nó có thành phần chính là dạng kim làm bằng sắt đậm hoặc nam châm luôn hướng về phía bắc và nam. Một la bàn tốt được trang bị nivo, là chất lỏng để ổn định chuyển động của kim, và cũng có một vật ngắm hoặc kính che mặt.

Như đã biết, la bàn có chức năng như một con trỏ chỉ các hướng chính, cụ thể là hướng bắc và nam (dựa trên từ trường nam bắc của trái đất). Khi tiến hành khảo sát lập bản đồ, việc sử dụng la bàn là để xác định hướng từ điểm này đến điểm khác có thể được hiển thị dựa trên độ lớn của góc phương vị (độ lớn của một góc bắt đầu từ bắc hoặc nam, chuyển động theo chiều kim đồng hồ), tính góc vuông và cách tính góc nằm ngang.

Máy kinh vĩ

Công cụ đo này được chế tạo để xác định chiều cao của các góc đo trên mặt đất, cụ thể là góc ngang (góc ngang) và góc thẳng đứng (góc đứng). Góc dùng để xác định khoảng cách ngang và khoảng cách dọc giữa hai điểm của trường. Để đo các góc này, người ta dùng máy kinh vĩ hoặc máy kinh vĩ làm dụng cụ đo đất, góc được đọc có thể có đơn vị là giây hoặc giây.

Máy kinh vĩ là công cụ tiên tiến nhất để đo đạc lập bản đồ khảo sát. Về cơ bản máy kinh vĩ là một kính thiên văn được đặt trên một đế hình đĩa có thể quay quanh trục thẳng đứng, do đó nó có thể đọc được các góc nằm ngang. Dựa vào cấu tạo và phương pháp đo đạc, máy kinh vĩ được chia thành 3 loại:
  • Máy kinh vĩ lặp lại: tấm nằm ngang (vòng tròn chia tỷ lệ) trở thành một với tấm hình tròn nonius và ống trục trên ngàm.
  • Máy kinh vĩ lặp lại: đĩa tròn cân được định vị sao cho đĩa có thể tự quay trên ống trục là trục quay.
  • Máy kinh vĩ điện quang: cách thức hoạt động gần giống như máy kinh vĩ quang học, chỉ khác là nó sử dụng hệ thống cảm biến có chức năng như một mô hình điện quang. Kết quả tính toán sẽ tự động xuất hiện trên màn hình dưới dạng thập phân.

Hệ thống định vị toàn cầu (GPS)

Một công cụ phục vụ để xác định tọa độ của vị trí trên bề mặt trái đất bằng vệ tinh. Hệ thống này sử dụng 24 vệ tinh sau này sẽ được gửi dưới dạng sóng vi ba đến trái đất, bản thân GPS có chức năng xác định tọa độ, tốc độ, thời gian khảo sát và phương hướng.

Đây là lời giải thích của Khảo sát lập bản đồ. Hi vọng những thông tin trên có thể hữu ích và nâng cao kiến ​​thức của bạn trong việc học tập môn bản đồ.